CHỨNG NHẬN THƯƠNG HIỆU



QUÀ TẶNG MIỄN PHÍ

DÀNH RIÊNG CHO BẠN
   click

ĐĂNG KÝ LÀM ĐẠI LÝ

TẶNG THÊM 3% CHIẾT KHẤU
(Cho đơn hàng đầu tiên)

VIDEO GIỚI THIỆU

HOTLINE

Mr. Tú

0906 919 313

Mr. NHÃ

0909 494 414

HƯỚNG DẪN ĐI ĐƯỜNG

1
Từ trung tâm Tp. Hồ Chí Minh đi qua KCN Tân Bình.
2
Tiếp tục đi qua cầu Tham Lương gặp ngã 3 Phan Văn Hớn quẹo tay trái.
3
Tiếp tục đi khoảng 1 km nhìn bên trái có đường Tân Thới Nhất 14 đi vào khoảng 200m là tới Showroom HI Furniture.

KẾT NỐI FACEBOOK

TIN TỨC NỘI THẤT

NGÀNH CÔNG NGHIỆP GỖ XUẤT KHẨU NGÀY CÀNG TĂNG

  • Ngành công nghiệp gỗ xuất khẩu ngày càng tăng

     1 . Quy mô và năng lực sản xuất

    Hiện tại, nhu cầu đối với sản phẩm gỗ trên thế giới tăng đáng kể, với mức tăng ít nhất là 8 % / năm . Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Thống kê của Liên Hợp Quốc ( Comtrade Data), nhập khẩu sản phẩm gỗ của thị trường thế giới đã đạt 200 tỷ USD trong năm 2002. Đặc biệt , các nước nhập khẩu nhiều nhất là Mỹ, tiếp theo là Đức , Pháp , Anh và Nhật Bản .
     
    Trong tình hình này , ngành công nghiệp của thế giới chế biến gỗ đã thay đổi đáng kể , đặc biệt là ở Trung Quốc và một số nước châu Á khác như Indonesia , Thái Lan , Malaysia, Việt Nam đã phát triển rất nhiều ... một cách nhanh chóng và với số lượng và chất lượng .
     
    Ngành công nghiệp chế biến gỗ của Việt Nam đang phát triển với một tốc độ rất nhanh trong những năm gần đây , tăng 7 bài mang xuất khẩu gỗ chế biến lớn nhất ở Đông Nam Á . Hiện nay, có khoảng 2.000 doanh nghiệp chế biến gỗ với công suất từ ​​2,2-2.500.000 khối viện trợ nhiệt gỗ mỗi năm , bao gồm 450 công ty chuyên sản xuất xuất khẩu ( 120 công ty sản xuất và 330 nhà sản xuất đồ gỗ ngoài trời ) .
     
    Các nhà sản xuất và chế biến gỗ ở Việt Nam , bao gồm cả các công ty nhà nước ( 374 công ty ) , các công ty bị hạn chế bởi chính sách và đầu tư nước ngoài từ Singapore, Đài Loan , Malaysia, Na Uy , Trung Quốc , Thụy Điển ... đang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và chế biến các sản phẩm gỗ của Việt Nam , với tổng vốn đăng ký lên đến 105 triệu đô la. Phần lớn các công ty sản xuất và chế biến các sản phẩm gỗ chủ yếu ở các tỉnh phía Nam ( thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai ... ) , các tỉnh Tây Nguyên và miền Trung ( Bình Định , Gia Lai , Đắc Lắc ... ) , một số công ty , thường các công ty sản xuất và xuất khẩu thủ công mỹ nghệ bằng gỗ , tập trung ở phía Bắc và Đồng bằng sông Hồng khu vực Hà Nội , bắc Ninh, Hà Tây, Vĩnh Phúc ...
     
    Nói chung , kích thước của các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ xuất khẩu các doanh nghiệp vừa và nhỏ , tạo ra một sự kết hợp của tay và cơ khí . Các nhà sản xuất của ngành công nghiệp sản phẩm gỗ thường là một đầu tư mới thiết bị và công nghệ tiên tiến để sản xuất , trong khi phần lớn các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ nội thất với hệ thiết bị mạng khá lạc hậu , không đáp ứng được yêu cầu của các đơn đặt hàng lớn hoặc thị trường đòi hỏi chất lượng cao .
     
    2 . Thị trường
    Hầu hết các sản phẩm gỗ các doanh nghiệp Việt Nam câu dưới cạnh tranh gay gắt từ các công ty trong Trung Quốc , Thái Lan , Indonesia, Malaysia, các nước Đông Âu và Mỹ Latinh. Riêng Trung Quốc có hơn 50.000 cơ sở sản xuất với hơn 50 triệu lao động và sản xuất gần 20 tỷ USD doanh thu .
     
    Thị trường xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam đã có những thay đổi lớn trong những năm gần đây , từ khi tập trung vào các thị trường vận chuyển như Đài Loan , Singapore, Hàn Quốc ... tái xuất sang nước thứ ba đến nay xuất khẩu trực tiếp vào thị trường tiêu dùng . Hiện nay, các sản phẩm đồ gỗ Việt Nam hiện tại 120 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, với chủng loại sản phẩm đa dạng, từ trang trí nội thất trong nhà, nhà hàng ngoài trời ... khi đối mặt với gỗ. Xuất khẩu tiếp tục tăng gỗ . Chỉ có các sản phẩm gỗ và gỗ được sản xuất trong dây chuyền công nghiệp , mới vào năm 1998 và ước đạt 135 triệu đến 1 tỷ USD trong năm 2004.
     
    Trong những năm tới , ngoài việc duy trì và phát triển các thị trường truyền thống ( thị trường trung chuyển và thị trường tiêu dùng trực tiếp ) thông qua đó uy tín và chất lượng sản phẩm gỗ xuất khẩu sang Việt Nam truy cập nhanh hơn cho người tiêu dùng , ngành công nghiệp gỗ Việt Nam sẽ tập trung phát triển mạnh mẽ thị trường mục tiêu , nền kinh tế phát triển ổn định , sức mua ổn định và nhu cầu tiếp tục tăng, các doanh nghiệp tổ chức kinh tế , thương mại hoàn chỉnh , hệ thống phân phối rộng khắp và năng động, bao gồm cả Liên minh châu Âu , Mỹ , Nhật Bản và Cộng hòa Liên bang Nga.
     
    Khách hàng trọng điểm cho các sản phẩm gỗ của Việt Nam được xác định là nhà nhập khẩu và nhà phân phối . Thực tế tiếp thị khả năng tài chính , nghiên cứu và phát triển sản phẩm thị trường của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu , vì vậy nếu bạn đã thiết lập kênh phân phối trực tiếp , mạng lưới bán hàng và phát triển nghiên cứu nhu cầu của thị trường sẽ được thực sự khó khăn đối với mỗi doanh nghiệp. Việc sử dụng các kênh phân phối hiện có và khả năng thị trường của các nhà phân phối và nhập khẩu trong thị trường giải pháp lớn và hiệu quả nhất để tăng cường sản xuất thâm nhập thị trường trong khi giảm chi phí hoạt động tiếp thị .
     
    Ngành công nghiệp gỗ xuất khẩu ngày càng tăng
     
    3 . Xuất khẩu sản phẩm gỗ
    Các sản phẩm của Việt Nam xuất khẩu gỗ từ các sản phẩm nguyên liệu (gỗ tròn , gỗ xẻ ) đã phát triển đến một mức độ cao hơn của chế biến, công nghệ áp dụng ngâm , khô , bề mặt trang trí ... xuất khẩu thành phẩm , sản phẩm có giá trị gia tăng trong công nghệ và lao động. Có thể chia nhỏ các sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam vào 4 nhóm chính:
    Nhóm thứ nhất: Nhóm sản phẩm đồ gỗ ngoài trời bao gồm tất cả các loại bàn ghế , băng ghế vườn, ghế xích đu ... làm hoàn toàn từ gỗ hoặc kết hợp với các vật liệu khác như sắt, nhôm , nhựa ...
     
    Nhóm thứ hai : Nhóm các sản phẩm đồ nội thất bao gồm tất cả các loại bàn, ghế , giường, tủ , kệ sách, đồ chơi, sàn ... làm hoàn toàn từ gỗ hoặc gỗ kết hợp với các vật liệu khác như da , vải ...
     
    Nhóm thứ ba : Nhóm hàng thủ công chủ yếu từ rừng tự nhiên , bao gồm bàn, ghế, tủ ... công nghệ áp dụng khắc, khảm.
     
    Thứ tư Nhóm: Sản phẩm làm từ gỗ vụn gỗ trồng phát triển nhanh như keo, bạch đàn ...
     
    Hiện nay , các sản phẩm gỗ chế biến xuất khẩu sang thị trường Mỹ chủ yếu là đồ gỗ ngoài trời được làm từ gỗ , trong khi hàng hóa Nhật Bản và thị trường EU chủ yếu là đồ dùng trong nhà được làm từ gỗ mềm .
     
    4 . Phẩm gỗ nghệ thuật Việt Nam
    Bên cạnh sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến gỗ, gỗ thủ công nghệ thuật Việt Nam cũng tăng trưởng mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng . Cả nước có 342 làng nghề thủ công bằng gỗ , trong đó có rất nhiều làng nghề lớn như Văn Hà ( Vĩnh Phúc ) , Đồng Kỵ (Bắc Ninh) , Đông Giao (Hải Dương) , Đồng Minh (Hải Phòng) , La Xuyên ( Nam Định) Kim Bồng (Quảng Nam) ... các cơ sở sản xuất , các doanh nghiệp kinh doanh thủ công mỹ nghệ bằng gỗ có xu hướng tập trung vào các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh , hoặc thậm chí trong làng. Nghệ thuật bằng gỗ mang Việt Nam không chỉ chất lượng mà còn vô cùng phong phú trong thiết kế để phục vụ nhu cầu của cuộc sống, từ trang trí nội thất như bàn, ghế, tủ , đèn ... những bức tượng , đồ trang sức , đồ dùng nhà bếp ... , Đã được đưa đến hơn 100 quốc gia trên thế giới, trong đó có các thị trường lớn như Nhật Bản , Mỹ , Đài Loan , Hồng Kông, các nước châu Âu đã đưa kim ngạch xuất khẩu hàng năm trên 30 triệu USD.

     
    Ngành công nghiệp gỗ xuất khẩu ngày càng tăng
    Ngành công nghiệp gỗ xuất khẩu ngày càng tăng

     
    5 . Nguyên liệu gỗ
    Nguồn nguyên liệu cho các sản phẩm gỗ xuất khẩu từ sự phụ thuộc vào rừng tự nhiên là DEA bật gỗ nhập khẩu và rừng trồng gỗ . Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn , các khu rừng tự nhiên của Việt Nam là 9.440.000 ha , trữ lượng 720.900.000 m3. Bảo vệ môi trường và đảm bảo phát triển bền vững , chính phủ có hạn chế gỗ từ rừng tự nhiên trong nước khoảng 300.000m3 mỗi năm trong giai đoạn 2000-2010 , các rễ chính để phục vụ xây dựng cầu , sản xuất đồ gỗ trong nước (250.000 m3 ) và sản xuất thủ công mỹ nghệ kim ngạch xuất khẩu ( 50.000 m3 ) . Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện chương trình và rừng trồng mới 5 triệu vào năm 2010 Việt Nam sẽ có thêm 2 triệu ha rừng , rừng đặc dụng và 3 triệu ha rừng sản xuất .
     
    Để bù đắp cho sự thiếu nguyên liệu gỗ tự nhiên, hàng năm Việt Nam phải nhập khẩu 250.000 đến 300.000 m3 gỗ từ các nước láng giềng và tăng cường sử dụng gỗ rừng trồng, sản xuất ván nhân tạo để xuất khẩu. Gỗ nhập khẩu từ các nước Đông Nam Á như Campuchia , Lào , Indonesia, Malaysia là không ổn định do chính sách của rừng quốc gia luôn luôn thay đổi , trong khi nhập khẩu từ các nước khác như New Zealand , Úc , Thụy Điển , Đan Mạch , Phần Lan , Canada, Mỹ, châu Phi, khoảng cách địa lý , giá của nguyên liệu là rất cao , làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam .
     
    Chủ động chuẩn bị gỗ , bên cạnh trồng trọt, Việt Nam đang tích cực phát triển các máy sản xuất ván nhân tạo , đóng vai trò quan trọng cho việc xuất khẩu công nghiệp chế biến gỗ MDF sợi ban nhà máy Gia Lai công suất 54.000m3 / năm , MDF Sơn La với công suất 15.000 m 3 / năm , MDF với công suất 10.000 m 3 / năm , nhà máy ván dăm Thái Nguyên với 16.500m3 / năm Thái Hòa (Nghệ An) và Hoành Bồ 15.000m3 ( Quảng Ninh ) 3.000m3/nam Bình Thuận .
     
    Hiện nay, tại Việt Nam , không có rừng để cấp chứng chỉ rừng (FSC) , trong khi nhu cầu về các sản phẩm được chứng nhận có nguồn gốc tăng ở hầu hết các thị trường lớn . Để thúc đẩy tiềm năng của ngành công nghiệp chế biến gỗ nuang Việt Nam, các cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nghiệp nên chú ý tới xu hướng "môi trường" của đồ nội thất thương mại . Với 3 thành phần chính của xu hướng : gỗ nhân tạo , FSC chứng nhận gỗ và gỗ tái chế , tiêu chuẩn môi trường sẽ được đưa ra trên thị trường như nhiều cho đồ nội thất thương mại , bao gồm cả việc xác định đủ điều kiện pháp lý và tái sinh của các khu vực khai thác . Do đó , đối với sản phẩm gỗ của Việt Nam mời các tổ chức quốc tế có thẩm quyền để giám sát các chứng chỉ quản lý , khai thác và xác nhận cho khai thác gỗ. Đặc biệt , việc xây dựng và các tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững cần được tiến hành một cách nhanh chóng và triệt để để đạt được một số lợi thế cho ngành lâm nghiệp ở Việt Nam .
     
    6 . Các cơ chế , chính sách của nhà nước hỗ trợ
    Đối với xuất khẩu , Chính phủ ban hành Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 , Quyết định 65/1998/QĐ-TTg ngày 24/03/1998 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư 122 / 1999/TT-BNN ngày 1998/03/27 của Bộ Nông nghiệp Phát triển nông thôn và Phát triển nông thôn quản lý việc xuất khẩu các sản phẩm gỗ từ rừng tự nhiên trong nước , khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi đối với gỗ nhập khẩu và xuất khẩu các sản phẩm gỗ rừng trồng , gỗ nhập khẩu . Biểu thuế xuất khẩu , thuế nhập khẩu và thuế xây dựng cụ thể , sản phẩm khác biệt để xuất khẩu được làm từ rừng tự nhiên sản phẩm có thuế suất cao hơn được làm từ gỗ rừng trồng . Gỗ rừng tự nhiên có một mức thuế suất trung bình là 5-10% , sản phẩm gỗ từ mức thuế suất trồng 0%
     
    Về nhập khẩu , trừ nhập khẩu gỗ từ Campuchia cấp giấy phép xuất khẩu , nhập khẩu của các Bộ trong nước thương mại , nhu cầu nhập khẩu các doanh nghiệp , không có giấy phép của chính quyền và được hưởng mức thuế nhập khẩu thấp hiện nay ( 0 % ) .
     
    Ngoài ra, các chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu thông qua các quỹ hỗ trợ phát triển , xuất khẩu chính sách tiền thưởng đã được thúc đẩy mặt hàng xuất khẩu gỗ của Việt Nam .
     

    Nếu bạn cần tư vấn thêm hoặc có bất kỳ câu hỏi nào, hãy để câu hỏi lại cho chúng tôi theo form dưới: